publish 13/09/2018 03:38

Mang thai tuổi 35 có muộn không? Nên lưu ý những vấn đề gì?

Phụ nữ mang thai ở tuổi 35 thường gặp những rủi ro gì? Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ có tuổi dễ bị tình trạng cao huyết áp trong thời kỳ mang thai: trước 20 tuần (tăng huyết áp mãn tính), sau 20 tuần (tăng huyết áp thai kỳ) hoặc sau 20 tuần và đi kèm với protein trong nước tiểu (tiền sản giật). Bác sĩ của bạn sẽ theo dõi huyết áp của bạn cũng như sự tăng trưởng và phát triển của bé. Bạn có thể cần phải dùng thuốc hoặc sinh non để tránh các biến chứng.

Loading...

Mang thai tuổi 35 có muộn không?

Các chuyên gia y tế khuyến cáo, phụ nữ không nên mang thai và sinh con sau tuổi 35. Tuy nhiên, hiện phụ nữ có con muộn ngày càng nhiều. Vì thế, nếu mang thai sau tuổi 35, chị em cần đặc biệt lưu ý những vấn đề sau.

Loading...
  • + Mất nhiều thời gian hơn để có thai: Phụ nữ khi sinh ra chỉ có một số lượng trứng giới hạn. Từ độ tuổi 30, phụ nữ có thể suy giảm chất lượng và ít rụng trứng hơn dù vẫn có nguyệt san đều đặn. Chưa kể, khi đã có tuổi, trứng cũng không dễ thụ tinh như khi bạn còn trẻ. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là bạn không thể có thai, chỉ đơn giản là sẽ mất nhiều thời gian hơn mà thôi. Nếu bạn trên 35 tuổi mà vẫn chưa thấy “tin vui” trong vòng sáu tháng, bạn nên đi khám để kiểm tra và được tư vấn.
  • + Dễ có đa thai: Cơ hội sinh đôi tăng tỷ lệ thuận với độ tuổi. Việc sử dụng các công nghệ hỗ trợ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm cũng là một nguyên nhân. Các thủ thuật này thường tăng cường sự rụng trứng nên dễ dẫn đến kết quả sinh đôi, thậm chí sinh ba hay sinh tư.
  • + Dễ bị bệnh tiểu đường: Đây là loại bệnh tiểu đường chỉ xảy ra trong quá trình mang thai và nó phổ biến hơn khi phụ nữ có tuổi. Bạn cần phải kiểm soát chặt chẽ đường máu thông qua khẩu phần ăn, hoạt động thể chất và điều chỉnh lối sống. Tất cả đều đóng vai trò quan trọng. Đôi lúc bạn cũng sẽ cần điều trị bằng thuốc. Nếu không điều trị, bệnh tiểu đường có thể khiến bé phát triển quá lớn, làm tăng nguy cơ chấn thương khi sinh.
  • + Dễ bị cao huyết áp khi mang thai: Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ có tuổi dễ bị tình trạng cao huyết áp trong thời kỳ mang thai: trước 20 tuần (tăng huyết áp mãn tính), sau 20 tuần (tăng huyết áp thai kỳ) hoặc sau 20 tuần và đi kèm với protein trong nước tiểu (tiền sản giật). Bác sĩ của bạn sẽ theo dõi huyết áp của bạn cũng như sự tăng trưởng và phát triển của bé. Bạn có thể cần phải dùng thuốc hoặc sinh non để tránh các biến chứng.
  • + Có thể phải sinh mổ: Các bà mẹ lớn tuổi có nguy cơ cao gặp biến chứng liên quan đến thai kỳ dẫn đến phải sinh mổ. Một trong những biến chứng đó là nhau tiền đạo – một điều kiện mà nhau thai chặn cổ tử cung. Các vấn đề về sinh sản có xu hướng phổ biến hơn ở những bà mẹ sinh con đầu lòng ở tuổi 35 trở lên.
  • + Nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể cao hơn: Trẻ sinh ra từ những bà mẹ lớn tuổi có nguy cơ cao hơn các vấn đề về nhiễm sắc thể nhất định, như hội chứng Down (trẻ sinh ra bị thiểu năng).
  • + Nguy cơ sẩy thai cao hơn: Nguy cơ sẩy thai cũng tăng lên khi bạn lớn tuổi hơn, có lẽ là do bất thường nhiễm sắc thể cao hơn.
  • + Mặt tích cực khi mang thai ở độ tuổi 35: Mặc dù việc mang thai trễ có thể khiến bạn gặp rủi ro cao hơn về sức khỏe sinh sản, bù lại ở độ tuổi từ 35 trở lên bạn đã trưởng thành hơn, thực tế và toàn tâm toàn ý cho việc mang thai hơn so với người mẹ trẻ. Như thế, nhiều khả năng bạn đã cân nhắc kỹ lưỡng những thay đổi mà bé yêu sẽ mang lại cho cuộc sống của bạn. Nhờ đó, bạn sẽ chuẩn bị tốt hơn để đối mặt với những thử thách và thay đổi phía trước. Những gì bạn làm lúc này, ngay cả trước khi thụ thai, có thể gây ảnh hưởng đến bé. Hãy nghĩ mang thai như một cơ hội để bạn nuôi dưỡng bé con và chuẩn bị cho những thay đổi thú vị sắp tới.

Mang thai tuổi 35 có ảnh hưởng gì đến thai nhi?

8 bệnh khi mang thai ở mẹ bầu có thể ảnh hưởng xấu đến em bé được giới thiệu trong bài viết dưới đây sẽ cho các chị em bầu thêm những kiến thức quý báu về thai kỳ. Khi mang thai, cơ thể chị em rất dễ bị nhiễm bệnh. Trong đó có một số bệnh có khả năng ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.

mang thai, dấu hiệu mang thai, mang thai muộn, sinh con 2019, Rulella, viêm gan B, Cảm cúm, cảm lạnh, thiếu máu

+ Thiếu máu: Đây là căn bệnh rất thường gặp ở phụ nữ mang thai. Dấu hiện thường gặp khi bị thiếu máu là biểu hiện mệt mỏi, chóng mặt, thiếu tập trung. Tuy nhiên nếu trong quá trình mang thai, ảnh hưởng của bệnh thiếu máu sẽ lớn hơn gây cho thai phụ dễ bị băng huyết, nhiễm trùng sau sinh còn với thai nhi thì thiếu máu có thể gây thai chậm phát triển, rối loạn chuyển hoá chất… Nếu được phát hiện kịp thời tình trạng thiếu máu và thiếu máu còn ở tình trạng nhẹ, thai phụ chỉ cần bổ sung kịp thời các chất như sắt, acaid folic, đạm… thì có thể tránh các nguy cơ trên. Thai phụ cần đi khám sức khoẻ theo lịch và bổ sung các viên sắt, vitamin theo hướng dẫn của bác sĩ để phòng tránh nguy cơ thiếu máu trong thai kỳ.

+ Cảm cúm: Hệ miễn dịch của cơ thể trong lúc mang thai thường bị giảm sút nên trong khoảng thời gian này sức đề kháng của phụ nữ suy giảm, rất dễ mắc các bệnh lây truyền qua không khí, qua đường hô hấp mà bệnh cúm là một trong những bệnh điển hình. Khi nhiễm virus cúm, ngoài các triệu chứng điển hình thường gặp như sốt, nhức đầu, sổ mũi thường gặp thì riêng đối với phụ nữ mang thai, virus cúm gây rối loạn quá trình trao đổi chất sinh ra độc tố, những độc tố này hoàn toàn có thể xâm nhập qua nhau thai gây các bệnh cho thai nhi như bệnh tim hay gây hiện tượng xảy thai, sinh non… Những ảnh hưởng của virus cúm đối với thai nhi sẽ phụ thuộc vào từng giai đoạn mang thai. Do đó trong thời gian này, phụ nữ mang thai cần tăng cường sức đề kháng, hệ miễn dịch bằng cách bổ sung vitamin qua trái cây, rau quả chứa vitamin C, ngoài ra cũng nên tránh chỗ đông người, không tiếp xúc với người bệnh, khi ra ngoài đường cần mang khẩu trang cẩn thận. Trong trường hợp bị nhiễm bệnh thì cần đi bệnh viện khám ngay.

+ Viêm gan siêu vi B: Theo tìm hiểu của baophunuso.com thì đây là một trong những bệnh lây truyền từ mẹ sang con khá nguy hiểm vì nếu bị nhiễm bệnh từ mẹ, em bé sinh ra có nguy cơ 70 – 90% chuyển sang mạn tính, xơ gan, ung thư gan. Do đó, cách bảo vệ tốt nhất là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sớm đi tiêm vaccine phòng viêm gan B để bảo vệ cho sức khoẻ bà mẹ cũng như có một thai kỳ khoẻ mạnh. Tuy nhiên, nếu không may bị nhiễm viêm gan siêu vi B thì khi có thai, tuỳ vào tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể để bảo vệ em bé trong suốt quá trình thai kỳ và các biện pháp tiêm phòng ngay khi em bé mới được sinh ra.

+ Rulella: Đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu nếu nhiễm loại virus này thì hết sức nguy hiểm vì chúng có thể gây ra các di chứng nặng nề cho em bé. Nguyên nhân là do virus có có khả năng xâm nhập xuyên qua bánh nhau làm ảnh hưởng đến thai nhi gây các bệnh về thần kinh, chậm phát triển, đầu nhỏ, viêm phổi, tổn thương mắt, điếc, gây bệnh tim mạch như còn lỗ thông liên nhất, còn ống động mạch, nguy cơ tiểu đường… Các phòng tránh bệnh tốt nhất là tiêm vaccine phòng bệnh. Riêng đối với phụ nữ đang mang thai mà mắc bệnh, nên đi bệnh viện kiểm tra để theo từng trường hợp, tuỳ theo từng tuần thai, bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể.

+ Mụn rộp do virus Herpes simplex: Đây là bệnh do virus xâm nhập vào cơ thể qua các lỗ hổng trên da gây triệu chứng ngứa, sau đó chúng gây ra các vết phỏng loét hoặc mụn rộp thường xuất hiện ở vùng mặt và miệng. Trong 3 tháng đầu mang thai người mẹ bị mắc bệnh này thì rất dễ bị sảy thai, trong trường hợp mẹ nhiễm bệnh nặng thì thai nhi có thể bị tổn thương các bộ phận của cơ thể như mắt, gan, lách, trẻ rất dễ bị co giật sau này. Các bà mẹ cần giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, không nên đến các khu vực đông người để hạn chế bị lây bệnh. Ngay khi xuất hiện các dấu hiện của bệnh như kể trên nên đi khám bác sĩ để được điều trị kịp thời, tránh để bệnh tiến triển nặng.

+ Thủy đậu: Đối với phụ nữ chưa từng mắc thuỷ đậu trước đây thì đây là căn bệnh cần lưu ý vì có thể chúng sẽ xuất hiện trong thời kỳ mang thai. Căn bệnh dễ mắc phải qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp do nhiễm varicella zoster virus (VZV) có thể gây một số ảnh hưởng cho thai nhi tuỳ thuộc vào tuổi thai. Bệnh thuỷ đậu có thể gây Hội chứng thuỷ đậu bẩm sinh, gây bệnh lý võng mạc, chi ngắn, đục thuỷ tinh thể, nhẹ cân… Để phòng tránh nguy cơ mắc bệnh, cách tốt nhất là phụ nữ trước khi mang thai nếu chưa từng mắc bệnh thì cần đi chủng ngừa và làm theo hướng dẫn của bác sĩ về thời gian cò thể có thai sau khi tiêm phòng. Riêng đối với phụ nữ mang thai đang mắc bệnh thì cần giữ không thể bóng nước vỡ để tránh nguy cơ bội nhiễm, giữ vệ sinh thân thể và đi khám bác sĩ để được tư vấn và điều trị kịp thời để hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra đối với thai nhi.

+ Viêm cầu thận: Bệnh gây tổn thương đến tiểu cầu thận, diễn tiến chậm và người bệnh bị viêm cầu thận thường có biểu hiện là chân bị phù, giảm chức năng thận, huyết áp tăng cao, tiểu ra máu…. Các xét nghiệm có chỉ số như albumin niệu, creatinin và ure trong máu đều cao. Khi mang thai nếu thai phụ bị viêm cầu thận ở thể nặng có thể làm cho nhau thai và cuống nhau bị teo nhỏ, sẽ gây thai suy dinh dưỡng, sẩy thai, thai chết lưu. Tuy nhiên nếu bị viêm cầu nhẹ, thai phụ vẫn có thể mang thai bình thường nhưng cần thăm khám bác sĩ thường xuyên để tránh bệnh tiến triển nặng gây những biến chứng không tốt đến sức khoẻ của bà mẹ và thai nhi.

+ Hen suyễn: Nếu thai phụ bị hen nhưng ở mức nhẹ thì thai nhi vẫn phát triển bình thường, tuy nhiên nếu bị hen nặng thì lúc lên cơn hen, người bệnh thở rất khó khăn nên có thể gây nguy cơ thiếu oxi cho thai nhi trong bụng. Nếu thai nhi không đủ oxi thì thai sẽ kém phát triển, có nguy cơ sinh non, nguy cơ tiền sản giật và biến chứng chu sinh, thậm chí có thể gây tử vong cho thai nhi và cả mẹ. Do đó yếu tố quan trọng đối với phụ nữ bị hen suyễn đặc biệt là trong giai đoạn mang thai là cần phải kiểm soát chức năng hô hấp, kiểm soát mức độ hen, điều trị bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩ và tránh các tác nhân kích thích cơn hen. Cố gắng kiểm soát và giữ cho chức năng phổi, hô hấp diễn ra bình thường, hạn chế tối đa các cơn hen.

Mang thai ở tuổi 35 nên làm gì?

Cũng theo bác sĩ Nguyễn Hồng Minh, nếu muốn sinh con khi lớn tuổi, cần khám sức khỏe trước khi mang thai. Nếu mắc các bệnh mạn tính như bệnh tiểu đường hoặc cao huyết áp, cần được bác sĩ điều trị và tư vấn kỹ để kiểm soát tốt các tình trạng này khi bạn mang thai. Trước và trong quá trình mang thai, cần duy trì chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng các thành phần dinh dưỡng.

Ăn đa dạng các loại thực phẩm sẽ cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết. Ăn nhiều trái cây và rau, ngũ cốc nguyên hạt, đậu thịt nạc, và các sản phẩm sữa ít chất béo. Tăng cường sử dụng các loại thực phẩm bổ sung acid folic cùng nhiều dưỡng chất khác như rau xanh lá (cải, súp lơ…); gan và một số loại trái cây có múi (cam, quýt, bưởi…).

Chị em cũng cần áp dụng lối sống lành mạnh, không hút thuốc, uống rượu, bia; tập thể dục hợp lý. Bên cạnh đó, cần uống 0,4mg acid folic mỗi ngày, ít nhất 1 tháng trước khi có thai và trong suốt thai kỳ để giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh ở trẻ. Ngoài ra, cần giảm cân nếu dư cân, béo phì. Tìm hiểu về hóa chất độc hại trong môi trường sống và làm việc để hạn chế khả năng tiếp xúc, tránh ảnh hưởng đến cả mẹ và bé.


Sau tuổi này số lượng trứng-chất lượng trứng (gọi chung là dự trữ buồng trứng) giảm, chưa kể tuổi tác gia tăng thì nguy cơ nhân xơ, lạc nội mạc tử cung cao. Vì vậy chuyện có thai, sinh con bị ảnh hưởng nhiều. Ngoài ra, những bệnh lý mạn tính như cao huyết áp, tiểu đường cũng là mối nguy hại cho việc mang thai, sinh nở. Trong khi đó, cao huyết áp và tiểu đường là những bệnh lý tác động trực tiếp đến bánh nhau, sự phát triển của thai nhi. Thai phụ sau tuổi 35 cũng dễ gặp rủi ro như tiền sản giật, sảy thai, sinh non, u xơ tử cung, nhau thai bất thường...



Loading...

Bình luận Ic comment spice
0

Ic post comment off
Bình luận

Đăng bình luận

‘Nếu bạn thích bài viết này, hãy "like" nó ’

Trở nên phổ biến từ